Luật sư tranh tụng vụ án chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn

0
159

(Lời dẫn) Bản luận cứ bảo vệ nguyên đơn Bùi Thị Hiền trong vụ án “Chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn, Hủy hợp đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” tại Thị trấn Chư Sê, Huyện Chư Sê, Tỉnh Gia Lai

Tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng chưa được phân chia sau ly hôn. Tuy nhiên, một bên đã thực hiện giao dịch dân sự đối với tài sản này mà không có sự đồng ý của bên còn lại, vậy giao dịch dân sự đó có vô hiệu hay không?

Dưới đây là bản luận cứ bảo vệ của Luật sư Nguyễn Trung Tiệp- Công ty Luật TNHH Thuận Thiên cho nguyên đơn chị Bùi Thị Hiền trong vụ án chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn với anh Cao Duy Hậu, huỷ HĐ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng anh Hậu đã tự ý ký và lập các HĐ chuyển nhượng cho bên thứ ba. Luật sư đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng của bị đơn đối với bên thứ ba và đồng thời tuyên huỷ các giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho các bên.

BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ

 NGUYÊN ĐƠN BÙI THỊ HIỀN

 

(Trong vụ án: Chia TSCVC sau khi ly hôn, hủy HĐ và GCNQSDĐ)

 

  1. NỘI DUNG, CĂN CỨ KHỞI KIỆN:

Chị Bùi Thị Hiền và anh Cao Duy Hậu là vợ chồng có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh vào năm 2005 và có ba con chung với nhau. Đầu năm 2008, vợ chồng chị Hiền từ huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đến thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê làm ăn sinh sống. khi đến huyện Chư Sê vợ chồng chị Hiền có mua hai lô đất là tài sản chung gồm:

1/. 01 lô đất ở + đất Nông nghiệp diện tích 187,2 m2 (đất nhà ở); thuộc tờ bản đồ số 57, số thửa 129d đã được UBND huyện Chư Sê cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM869916 ngày 30/9/2008

Địa chỉ: tại thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

2/. 01 lô đất Nông nghiệp trồng cây lâu năm diện tích 9.234 m2, thuộc tờ bản đồ số 83, số thửa 42; đã được UBND huyện Chư Sê cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/06/2008 số: AM834503.

Địa chỉ: tại Làng Kênh Siêu, xã Chư Pơng, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Từ năm 2008, vợ chồng chị Hiền, anh Hậu sống chung không có hạnh phúc, hay xảy ra mâu thuẫn, không thể sống chung với nhau được nên chị Hiền bỏ nhà ra đi thuê nhà ở riêng. Sau đó, cả hai đã ly hôn với nhau bằng bản án/quyết định của TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai số 12/2011/HNGĐ – ST ngày 04/5/2011 đã có hiệu lực xử cho chị Hiền và anh Hậu được ly hôn với nhau và giải quyết về mặt con cái. Tuy nhiên, chưa giải quyết về mặt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vì, năm 2011, khi làm đơn khởi kiện đến Tòa án huyện Chư Sê để giải quyết ly hôn và chia tài sản chung với anh Cao Duy Hậu, khi đó chị Hiền mới biết việc anh Hậu giả chữ ký và chuyển nhượng tài sản chung cho người khác.

Theo bản kết luận điều tra số 116/KLĐT ngày 31/10/2014 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Sê việc chuyển nhượng tài sản chung vợ chồng là hai lô đất đó của Cao Duy Hậu như sau:

“Sau khi chuyển nhượng được tên hai lô đất là tài sản chung của Hậu và Hiền qua tên Cao Thị Mây. Đến tháng 4 năm 2010, Hậu bán lô đất tại thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai cho anh Phạm Văn Hùng, sinh năm 1972, trú tại xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định với giá 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Hậu đã nhờ Cao Thị Mây là chị gái từ huyện Vĩnh Tường vào huyện Chư Sê ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho anh Hùng. Là chị em nên Cao Thị Mây ký giúp Hậu chứ không biết việc Hậu đã giả chữ ký và chiếm đoạt tài sản của Hiền. (trang 3 Bản kết luận điều tra). Hiện nay, UBND huyện Chư Sê đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất này cho anh Phạm Văn Hùng.

Đến tháng 8 năm 2011, Cao Duy Hậu tiếp tục bán lô đất và tài sản gắn liền với đất tại làng Kênh Siêu, xã Chư Pơng, huyện Chư Sê, Gia Lai cho anh Bùi Đức Văn, sinh năm 1981; trú tại thôn Thôn Mỹ Thạch 1, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai với giá 540.000.000 đồng (năm trăm bốn mươi triệu đồng) nhưng chỉ mua bán viết tay với nhau chứ không làm thủ tục sang tên đổi chủ được. Đến tháng 4 năm 2012, anh Văn đã bán lô đất trên cho anh Lê Văn Chín, sinh năm 1970; trú tại thôn Thanh Bình, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (bán giấy viết tay) với giá 610.000.000 đồng (sáu trăm mười triệu đồng), hiện nay anh Chín đang sử dụng lô đất này (trích trang 4 bản kết luận điều tra vụ án)”

Từ những căn cứ nêu trên cho thấy khi ly thân với nhau, anh Cao Duy Hậu đã có hành vi gian dối và giả mạo chữ ký của chị Bùi Thị Hiền và chị gái là Cao Thị Mây, được sự giúp sức của ông Trịnh Tiến Thuật cán bộ tư pháp xã Chư Pơng, ông Nguyễn Văn Minh cán bộ tư pháp thị trấn Chư Sê, ông Lương Xuân Bắc là cán bộ tiếp nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất tại bộ phận một cửa của UBND huyện Chư  Sê, ông Nguyễn Thanh Xuân chủ tịch UBND thị trấn Chư Sê..nên đã hợp thức hóa được thủ tục và chuyển nhượng 02 lô đất trên mà chị Hiền và Cao Duy Hậu là đồng chủ sở hữu cho Cao Thị Mây (là chị gái ruột của Hậu).

Đây là vụ án dân sự thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự” và khoản 2 Điều 28 “Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”.Thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 34, Điều 37 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bởi thế, sau  khi có bản án dân sự số 12/2011/HNGĐ – ST ngày 4/05/2011 của TAND huyện Chư Sê về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản sau khi ly hôn nhưng không được xem xét giải quyết vấn đề chia  tài sản chung của vợ chồng, Ngày 30/03/2018, chị Hiền tiếp tục làm đơn khởi kiện tại TAND tỉnh Gia Lai với yêu cầu:

– Đề nghị TAND tỉnh Gia Lai tuyên vô hiệu và hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Cao Duy Hậu đã thực hiện đối với bà Cao Thị Mây và Phạm Văn Hùng;

– Đề nghị TAND tỉnh Gia Lai buộc ông Phạm Văn Hùng phải có trách nhiệm trả lại chị Hiền và anh Cao Duy Hậu toàn bộ thửa đất là: diện tích 187,2 m2 (đất nhà ở) thuộc tờ bản đồ số 57, số thửa 129d; Địa chỉ: tại thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Đồng thời, buộc ông Lê Văn Chín trả lại chị Hiền và anh Hậu  diện tích 9.234 m2, thuộc tờ bản đồ số 83, số thửa 42; Địa chỉ: tại thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở đó đề nghị Tòa chia hai khối tài sản chung vợ chồng trên cho chị Hiền và Cao Duy Hậu theo quy định của pháp luật;

 

  1. QUAN ĐIỂM PHÁP LÝ.

 

Kính thưa Hội Đồng Xét Xử !

Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát và các Quý vị có mặt trong phiên tòa dân sự sơ thẩm hôm nay!

Tôi là Luật sư Nguyễn Trung TiệpThuộc Công ty Luật Thuận Thiên – Đoàn luật sư Hà Nội. Nhận đơn mời luật sư của nguyên đơn và được sự chấp thuận của TAND tỉnh Gia Lai. Tôi có mặt trong phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị Bùi Thị HIền trong vụ án:“hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy CNQSDĐ và chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn”này.

Qua trao đổi làm việc với các đương sự, nghiên cứu hồ sơ vụ án và phần thẩm vấn, xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Tôi trình bày bản luận cứ bảo vệ với những nội dung, quan điểm pháp lý như sau:

Thứ nhất: về nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng

Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/12/2018 – Bl 130, chị Hiền khai như sau: “quá trình chung sống tôi và anh Hậu có tạo lập được tài sản chung là các quyền sử dụng đất tại thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn Chư Sê và tại xã Chư Pơng, huyện Chư Sê.khi ly hôn, tôi và anh Hậu không có bất cứ thỏa thuận gì về việc phân chia tài sản chung mà tôi và anh Hậu tạo lập được trong quá trình hôn nhân vẫn chưa được phân chia”.

Trong biên bản lấy lời khai ngày 19/02/2019, của TAND huyện Vĩnh Tường thực hiện theo ủy thác của TAND tỉnh Gia Lai, anh Hậu cho biết:

“Thời điểm ở tỉnh Gia Lai, tôi và Chị Bùi Thị Hiền có mua được 02 thửa đất ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai”.

Như vậy, lời khai của chị Hiền, anh Hậu là phù hợp nhau cùng với các giấy CNQSDĐ số AM834503 ngày 20/06/2008 và AM869916 ngày 30/9/2008 đứng tên Cao Duy Hậu và Bùi Thị Hiền mà UBND huyện Chư Sê đã cấp cho thấy: đây là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của 02 vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Thứ hai: về việc lập các HĐ CNQSDĐ trái pháp luật

Một là: Bản Kết luận giám định số 02/KLGĐ ngày 24/04/2013 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Gia Lai – Bl 39 kết luận:

Chữ viết “Bùi Thị Hiền”, chữ ký “hiền” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M8 ghi trên là: không phải do cùng một người viết ra. Do đó, các hợp đồng CNQSDĐ xác lập ngày 28/11/2008 và 26/05/2009 đứng tên bên chuyển nhượng là Cao Duy Hậu, Bùi Thị Hiền với bên nhận chuyển nhượng là Cao Thị Mây đều có dấu hiệu giả mạo chữ ký của chị Hiền do Cao Duy Hậu lập lên. Đây là các giao dịch dân sự giả tạo có dấu hiệu gian dối đã được CQĐT Công an huyện Chư Sê kết luận trong bản KLĐT số 116/KLĐT ngày 31/10/2014. Vì vậy, 02 hợp đồng chuyển nhượng này sẽ bị vô hiệu do trái pháp luật, dẫn đến tất cả các giao dịch chuyển nhượng, mua bán liên quan đến 02 thửa đất trên về sau mà anh Hậu chuyển nhượng lại cho nhiều người đều vô hiệu vì không có giá trị pháp lý, không hợp pháp, theo quy định tại các Điều 128, Điều 129, Điều 137, Điều 410 BLDS 2005 tương ứng với các Điều 122, 123, 124, 127, 131 BLDS 2015 hiện nay.

Như vậy, có thể khẳng định chị Hiền không tham gia vào các giao dịch dân sự liên quan đến việc xác lập giấy tờ, mua bán đất đai đối với 02 thửa đất trên. Vì trong thời gian từ 2008 đến khi ly hôn vào năm 2011, chị Hiền và anh Hậu đã sống ly thân với nhau. Khi làm đơn khởi kiện đến Tòa án huyện Chư Sê để giải quyết ly hôn và chia tài sản chung với anh Cao Duy Hậu, thì chị Hiền mới biết việc anh Hậu giả chữ ký và chuyển nhượng tài sản chung cho người khác.

Hai là: Tại CQĐT Công an huyện Chư Sê, anh Bùi Đức Văn khai:

“Tháng 04/2012, anh có bán cho anh Lê Văn Chín 01 lô đất trồng cà phê và hồ tiêu tại làng Kênh Siêu, xã Chư Pơng. Đất này là do anh mua lại của anh Cao Duy Hậu…Sau đó, anh và anh Hậu viết giấy tờ mua bán tay, không có xác nhận của chính quyền địa phương, anh cũng đã giao cho anh Hậu 500.000.000 đồng, anh Hậu đưa giấy CNQSDĐ ghi tên chị Mây cho anh giữ”.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 19/06/2018-Bl 126 anh Lê Văn Chín trình bày:

“Anh nhận chuyển nhượng đất đó của anh Bùi Đức Văn và chị Nguyễn Thị Minh với giá 610.000.000 đồng. hai bên viết giấy tay với nhau có người làm chứng là ông Nguyễn Khắc Hòa. Anh Văn giao cho anh giấy CNQSDĐ số AO 345587 do UBND huyện Chư Sê cấp ngày 03/03/2009 đứng tên Cao Thị Mây”.

Lời khai trên của anh Văn và anh Chín cho thấy cả hai mua lại thửa đất trên đều chỉ qua hình thức giấy tờ viết tay với nhau mà không có xác nhận của chính quyền địa phương. Trong khi đó, tại thời điểm này, pháp luật dân sự năm 2005 quy định với các giao dịch mua bán đất đai phải lập thành hợp đồng chuyển nhượng và có công chứng, chứng thực. Do đó không tuân thủ về mặt hình thức nên sẽ vô hiệu và không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 134 BLDS năm 2005 tương ứng với Điều 129 Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Thứ ba: về cơ sở pháp lý

Một là: Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định tại Điều 95 tương ứng với Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn là: “Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó”.

Hai là: BLDS năm 2005 quy định về sở hữu chung của vợ chồng tương ứng với Điều 213 BLDS năm 2015 như sau:

Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng

  1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
  2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
  3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
  4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

– Điều 133. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

  1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
  2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

  1. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

– Tại nghị quyết số 02/2004/NQ – HĐTP ngày 10/08/2004 của HĐTP TANDTC quy định như sau:

 

“2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993

a.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

c.2. Xác định lỗi, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Việc xác định lỗi, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình”

Đối chiếu quy định nêu trên với trường hợp thân chủ tôi là chị Bùi Thị Hiền yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn hiện nay là hoàn toàn chính đáng, đúng pháp luật. Vì hai thửa đất trên là tài sản hợp pháp hình thành trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hiền, chia đôi tài sản đó. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với hai thửa đất ngày 30/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản như sau:

– Đối với thửa đất có diện tích 9.234 m2, có địa chỉ tại: Làng Kênh Siêu, xã Chư Pơng, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, tổng giá trị đất, nhà cửa, vật kiến trúc và cây cối trên đất là: 958. 756.748 đồng.

– Đối với thửa đất có diện tích 187,2 m2. Trong đó 40 m2 đất ở đô thị và 147, 2 đất nông nghiệp; có địa chỉ tại: thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Qua tham khảo giá thị trường tại thời điểm định giá thì thửa đất đang tranh chấp có giá trị là: 250.000.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị là:  958. 756.748+250.000.000 = 1.208.756.748 đồng.

Do đó, tổng giá trị tài sản trên chia đôi là: 1.208.756.748:2= 604.378.374 đồng

Theo yều cầu của chị Hiền muốn được lấy bằng tiền, đồng thời việc vợ chồng anh Chín, chị Quyên đang sử dụng ổn định, canh tác/trồng trọt cà phê, tiêu trên thửa đất 9.234 m2, cũng như anh Phạm Văn Hùng là người mua bán ngay tình từ hợp đồng chuyển nhượng của bà Cao Thị Mây. Cho nên, luật sư đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn, có tính đến công sức tu bổ, tôn tạo của vợ chồng anh Chín, chị Quyên với thửa đất trên tại làng Kênh Siêu và anh Hùng đối với thửa đất tại thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn Chư Sê. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường này phải do bị đơn Cao Duy Hậu thực hiện. Bởi, anh Hậu là người thực hiện giả mạo, gian dối trong các hợp đồng chuyển nhượng.

Đối với lời khai và việc bị đơn xuất trình cho Tòa các tài liệu cho rằng: chị Hiền đã ký vào đơn xin ly hôn và giao cho chị Hiền 120 triệu đồng; giấy biên nhận vay tiền đề ngày 20/01/2008 có nội dung thể hiện chị Hiền và anh Hậu vay của bà Cao Thị Mây 200 triệu đồng và trong giấy cam kết” đề ngày 6/03/2009 luật sư nhận thấy như sau:

Một là: về chữ viết Bùi Thị Hiền và chữ ký Hiền rất ngược so với quy định vì theo nguyên tắc là ký trước, viết đầy đủ họ tên phía dưới. Song, ở 03 văn bản trên chữ Bùi Thị Hiền đều viết trên, còn chữ ký Hiền ở dưới. Trường hợp này, rất giống chữ ký và chữ viết trong 02 HĐ CNQSDĐ xác lập ngày 28/11/2008 và 26/05/2009 mà Cao Duy Hậu đã giả mạo chữ ký, chữ viết của chị Hiền. Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/12/2018, chị Hiền đã khẳng định và có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết trên để làm sáng tỏ vấn đề.

Hai là: cũng trong biên bản lấy lời khai ngày 19/02/2019 bị đơn Hậu đã không xuất trình bản gốc các văn bản nêu trên mà chỉ nộp cho Tòa các bản sao/phô tô nên TAND tỉnh Gia Lai không thể tiến hành trưng cầu giám định được. Do vậy, những ý kiến nêu trên của bị đơn là mâu thuẫn và không có căn cứ để chấp nhận vì không có giá trị chứng minh.

III. ĐỀ NGHỊ LUẬT SƯ

Từ những nhận định phân tích trên kết luận: Thửa đất 9.234 m2, có địa chỉ tại làng Kênh Siêu, xã Chư Pơng và thửa đất diện tích 187,2 m2; Địa chỉ: Thôn Mỹ Thạch 2, thị trấn, Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai là tài sản chung hợp pháp hình thành trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng chị Hiền, anh Hậu. Việc anh Cao Duy Hậu giả mạo chữ ký chị Hiền trong các HĐ CNQSDĐ đã được các cơ quan có thẩm quyền kết luận nên các giao dịch đó là vô hiệu. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Cao Thị Mây, Phạm Văn Hùng của UBND huyện Chư Sê là không đúng pháp luật.

Vì vậy, luật sư đề nghị HĐXX xem xét những nhận định, phân tích trên của chúng tôi để ra những phán quyết công tâm. Chúng tôi đề nghị cụ thể như sau:

1- Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 213 Bộ Luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia đôi tài sản là 02 thửa đất nêu trên theo kết quả định giá tài sản cho chị Bùi Thị Hiền;

2- Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều Điều 122, 123, 124, 127, 131, 134 BLDS 2015, tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà Cao Duy Hậu đã thực hiện đối với bà Cao Thị Mây và Phạm Văn Hùng về thửa đất 187,2 m2, có địa chỉ tại thôn Mỹ Thạch, thị trấn Chư Sê; tuyên bố các giao dịch chuyển nhượng giữa Cao Duy Hậu với anh Bùi Đức Văn, giữa anh Văn với anh Lê Văn Chín đối với thửa đất 9234 m2 ở xã Chư Pơng.

3Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 tuyên hủy các giấy CNQSDĐ số AO 345587 đứng tên Cao Thị Mây do UBND huyện Chư Sê cấp ngày 3/03/2009 và giấy CNQSDĐ số BA 501910 đứng tên Phạm Văn Hùng, Trần Thị Gái do UBND huyện Chư Sê cấp ngày 9/07/2010.

Chúng tôi tin tưởng rằng HĐXX sẽ ra một bản án công minh, đúng pháp luật!

Xin chân thành cảm ơn HĐXX đã lắng nghe!

Luật sư: Nguyễn Trung Tiệp

========================================================

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT THUẬN THIÊN

Giám đốc - Luật sư:  Nguyễn Trung Tiệp Công ty luật chuyên:
Hình sự - Thu hồi nợ - Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.
Trụ sở chính:  Số 3 ngách 168/46/7/2 Phan Trọng Tuệ, Huỳnh Cung, Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội.
Văn phòng luật sư Hà Nội: Tầng 4, toà nhà Hoàng Vương, số 31 Nguyễn Xiển, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Văn phòng luật sư Quảng Nam: Số 174 Văn Tiến Dũng, phường Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Văn phòng luật sư TPHCM: Tòa nhà 68 Lộc Phát, số 68 Bạch Đằng, phường 2, Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh..
Tổng đài : 1900.8686.64
Email: luatthuanthien@gmail.com
Hệ thống Website:
www.luatthuanthien.com
www.thuanthienlawfirm.com
#luatsubaochua #luatsutranhtung #luatsuhinhsu #luatsudatdai #thuhoino
Bài trướcLuật sư tranh tụng vụ án chia tài sản thừa kế theo pháp luật
Bài tiếp theoLuật sư tranh tụng vụ án “Hủy hoại rừng và chống người thi hành công vụ”